Đối tác

    • Trương Đình Bảo

    • ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
    • Ông Trương Đình Bảo đóng vai trò tư vấn về nghiên cứu kinh tế xã hội trong lĩnh vực thú y cho dự án ViParc từ đầu năm 2017. Ông cũng là người quản lý dữ liệu của dự án và chịu trách nhiệm nghiên cứu kinh tế xã hội cộng tác cùng với giáo sư Jonathan Rushton (Đại học Liverpool).

      Ông Bảo quan tâm đến các bệnh truyền nhiễm và thú y sức khỏe cộng đồng. Vào tháng 7 năm 2017 ông được trao bằng Tiến sỹ Khoa học của Trường Thú y Quốc gia Toulouse (Pháp). Nghiên cứu tiến sỹ của ông tập trung vào việc nông dân Việt Nam có thể tham gia tốt hơn trong việc giám sát và kiểm soát Bệnh Lở mồm long móng ở cấp địa phương như thế nào. Hiện nay ông đang là giảng viên tại Chăn nuôi - Thú y của Đại học Nông Lâm (Thành phố Hồ Chí Minh).

    • James Campbell

    • ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG ĐẠI HỌC OXFORD
    • James Campbell đã làm việc tại OUCRU với tư cách là Trưởng Phòng thí nghiệm nghiên cứu vi sinh từ năm 1999. Ông đã làm việc trên nhiều dự án lâm sàng về thú y và con người. James có nhiều kinh nghiệm chẩn đoán lâm sàng trong cả thú y và con người qua nhiều năm. Ông là tác giả và đồng tác giả của 150 bài báo khoa học. James là thành viên của Viện Khoa học Y sinh, Vương quốc Anh và được Chính phủ Việt Nam trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh vì công việc của ông trong Khoa học và Y học cho lợi ích của người dân Việt Nam.

    • Jonathan Rushton

    • ĐẠI HỌC LIVERPOOL
    • Jonathan Rushton là một nhà kinh tế nông nghiệp chuyên về kinh tế sức khỏe động vật cùng chăn nuôi sản xuất và hệ thống thực phẩm – Những lợi ích phát triển từ việc sống và làm việc trên trang trại bò sữa của gia đình. Ông hiện đang tham gia vào nghiên cứu toàn cầu về One Health và hệ thống thực phẩm, và có 25 năm kinh nghiệm quốc tế về chăn nuôi và kiểm soát các bệnh động vật ở Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Các mối quan tâm chính của ông gồm đánh giá tác động của bệnh, việc sử dụng phân tích hệ thống thực phẩm để hiểu các vấn đề của One Health và phân tích kinh tế của các can thiệp y tế. Jonathan là giáo sư về kinh tế sức khỏe động vật tại trường Cao đẳng Thú y Hoàng gia, đã giữ chức chủ tịch Norbrook về quản lý kinh doanh thú y và là thành viên sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Tích hợp Nông nghiệp và Sức khỏe Leverhulme. Vào tháng 10 năm 2016, ông gia nhập Viện nghiên cứu về nhiễm trùng và sức khỏe toàn cầu tại Đại học Liverpool để lấy chức giáo sư N8 về Kinh tế của Hệ thống thực phẩm và sức khỏe động vật. Ông là một phần của dự án N8 (http://www.n8research.org.uk) và tiếp tục nghiên cứu hệ thống thực phẩm an toàn và bền vững. Ông cũng là giáo sư trợ giảng tại Khoa Hành vi, Nhận thức và Khoa học Xã hội của Đại học New England, Úc.

      Trong ba năm qua, ông đã từng bước tham gia vào việc đánh giá sử dụng kháng sinh (AMU) trong chăn nuôi và các vấn đề liên quan đến những thay đổi trong kháng kháng sinh (AMR) có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Ông nhận thấy nhu cầu cần thêm thông tin về phức hợp AMU / AMR trong chăn nuôi đòi hỏi phải cân bằng thay đổi trong sản xuất lương thực, quản lý bệnh động vật và tác nhân gây bệnh zoonotic và AMR. Jonathan đã làm việc với OECD, FAO, OIE, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Fleming trong các nghiên cứu phạm vi và thiết lập đường cơ sở về AMU trong chăn nuôi và tác động kinh tế của AMR.

      Dự án ViParc ở Việt Nam là một ví dụ tuyệt vời về dữ liệu cần thiết để giải quyết sự phức tạp và cung cấp cho người sản xuất và người tiêu dùng những kết quả tốt nhất có thể.

    • Niwat Chansiripornchai

    • ĐẠI HỌC CHULALONGKORN
    • Năm 1993, Phó Giáo sư Niwat Chansiripronchai có bằng Cử nhân Đại học Chulalongkorn, tại Bangkok, Thái Lan. Năm 2000, ông lấy bằng Thạc sĩ từ Đại học Khoa học Nông nghiệp Thụy Điển, trong lĩnh vực Dịch tễ học phân tử. Năm 2004, ông được trao bằng tiến sĩ từ Đại học Utrecht tại Hà Lan trong lĩnh vực bệnh truyền nhiễm và miễn dịch học. Năm 2015, ông trở thành thành viên sáng lập của Hội đồng thú y Thái Lan (DTBVM).

      Trong giai đoạn 2005-2009, Ông được bổ nhiệm làm trợ lý trưởng khoa. Sau đó, ông được đề bạt làm trưởng khoa đào tạo sau đại học ngành Thú y của trường Đại học Chulalongkorn từ 2009 đến 2013. Trong giai đoạn 2013-2014, ông được bổ nhiệm làm việc tại OIE (Tổ chức Thú y Thế giới) ở Paris, Pháp, với trọng trách theo dõi sự tương tác của các bệnh đường hô hấp giữa con người và động vật.

      Từ năm 1993, Niwat công tác tại Khoa Thú y trường Đại học Chulalongkorn, trong lĩnh vực Thuốc gia cầm và Dịch tễ học. Cho đến nay, ông đã có hơn 100 ấn phẩm và 50 trong số đó là các tài liệu quốc tế cùng hơn 30 bản tóm tắt và các thủ tục hội nghị. Ông được mời tham dự nhiều bài giảng đặc biệt và các học thuật ở trong nước và quốc tế. Năm 2009, Ông đã nhận được bằng sáng chế của Hoa Kỳ (US2009 / 0250845 A1) về điều chế miễn dịch trên gia cầm. Ông tập trung chủ yếu vào các bệnh đường hô hấp và bệnh đường ruột gia cầm. Hiện tại, ông là giảng viên, nhà nghiên cứu và chuyên gia gia cầm tại Đại học Chulalongkorn.

      Niwat đang hợp tác với ViParc để đào tạo các Project Vet về quy trình mổ khám, chẩn đoán bệnh do vi khuẩn và virus ở Chi cục thú y tỉnh Đồng Tháp. Ông cũng đóng góp các phương pháp để xác định và kiểm soát các bệnh do vi khuẩn ở Đồng Tháp.

    • Alexis Ribas Salvador

    • ĐẠI HỌC BARCELONA
    • Tiến sĩ Ribas bắt đầu làm tình nguyện viên trong Bảo tàng Khoa học tự nhiên của Granollers (Barcelona, Tây Ban Nha) khi ông được 13 tuổi bởi vì đam mê với khoa học. Sau đó, ông lấy bằng Cử nhân Sinh học và làm luận văn tại Phòng thí nghiệm Ký sinh trùng thuộc Khoa Dược của Đại học Barcelona (Tây Ban Nha). Sự nghiệp của ông bao gồm nhiều khía cạnh (phân loại sinh học, sinh thái học…) của giun sán, đó là mô tả gen và loài giun mới. Cho đến nay, ông đã có hơn 80 ấn phẩm quốc tế trong JCR, cũng như một số chương sách. Ông từng là nhà nghiên cứu tại Pháp (Trung tâm Biologie et Gestion Populations, Montpellier); Bỉ (Đại học Antwerp, Antwerp), Cộng hòa Séc (Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hòa Séc, Brno); Thái Lan (UDRU, Udon Thani). Ông được nhiều tổ chức mời tham gia các chuyến đi thực địa ở các nước châu Á khu vực phía nam (Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam) cũng như ở châu Phi (Ethiopia, Senegal, Tanzania và Tunis). Ông là cố vấn và đồng cố vấn cho các luận văn Thạc sĩ hoặc luận văn của một số sinh viên quốc tế.

      Tiến sĩ Ribas đang cộng tác với ViParc để đào tạo các Project Vet về chẩn đoán ký sinh trùng ở Chi cục thú y tỉnh Đồng Tháp. Ông cũng đóng góp các phương pháp để xác định và kiểm soát các bệnh do giun sán ở Đồng Tháp.

    • Erry Setyawan

    • TỔ CHỨC LƯƠNG THỰC & NÔNG NGHIỆP LIÊN HIỆP QUỐC (INDONESIA)
    • Erry Setyawan có nhiều kinh nghiệm về gia cầm, giống và quản lý trại giống. Năm 2002, Ông bắt đầu làm việc tại một công ty vaccine châu Âu ở Indonesia. Sau đó ông chuyển sang làm việc tại hai công ty gia cầm lớn nhất ở Indonesia cho đến cuối năm 2010.

      Ông tốt nghiệp bằng Thú y của trường Đại học Gadjah Mada (Yogyakarta, Indonesia). Năm 2008, ông hoàn thành chương trình Quản lý Kinh doanh Nông nghiệp tại Viện Nông nghiệp Bogor. Từ năm 2010, ông làm cố vấn kỹ thuật về sức khỏe gia cầm tại Tổ chức Lương thực & Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) ở Indonesia. Năm 2015, ông nhận bằng Thạc sĩ Thú y Gia cầm, được đồng tổ chức bởi Đại học Melbourne (Úc) và Đại học Georgia (Mỹ). Tại FAO, ông tiến hành các nghiên cứu trên nhiều loại trang trại gia cầm (bao gồm gà đẻ, gà thịt và vịt) để xác định các phương thức chăn nuôi tốt nhất để hỗ trợ nông dân Indonesia. Ông còn hỗ trợ các hoạt động liên quan đến đề kháng kháng sinh và sử dụng kháng sinh quá mức ở các trang trại của Indonesia. Erry hiện đang hỗ trợ ViParc tập huấn cho nông dân và các Project Vet xây dựng nông trại khỏe mạnh thích hợp với các trang trại gà thịt của đồng bằng sông Cửu Long.

    • Marc Choisy

    • ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG ĐẠI HỌC OXFORD
    • Mối quan tâm của Marc là sự lây truyền các bệnh truyền nhiễm theo không gian, thời gian và cách kiểm soát tối ưu. Cách tiếp cận của ông dựa trên tính toán dữ liệu và phần mềm máy tính. Marc có bằng thạc sĩ về nông học, sinh học thống kê, sinh thái học và sự tiến hóa của sinh vật, và bằng tiến sĩ về sinh học tích hợp. Sau 2 năm làm nghiên cứu viên tại trường đại học Georgia (Mỹ), ông gia nhập Viện de Recherche pour le Développement (IRD) ở Pháp vào năm 2006. Từ năm 2012, Marc làm việc tại Việt Nam (Hà Nội), với đóng góp cho cả IRD và OUCRU. Ông tập trung phân tích dữ liệu bệnh sốt xuất huyết và cúm ở người từ các hệ thống giám sát quốc gia. Từ năm 2016, Marc nghiên cứu nhiều hơn về vấn đề kháng kháng sinh.

    • Bạch Tuấn Kiệt

    • CHI CỤC CHĂN NUÔI & THÚ Y ĐỒNG THÁP
    • Với bằng Cử Nhân và Thạc Sỹ chuyên ngành Chăn Nuôi từ Đại Học Cần Thơ, ông Kiệt hiện điều phối các Bác Sỹ Thú Y (Project Vet) cho dự án ViParc, với vai trò tư vấn giúp người chăn nuôi quy mô nhỏ ở tỉnh nhà Đồng Tháp cải thiện sức khỏe đàn gà và giảm thiểu nhu cầu sử dụng kháng sinh. Vừa đảm nhiệm vị trí Trưởng Phòng Dịch Tễ của Chi Cục Chăn Nuôi-Thú Y Đồng Tháp, ông vừa là nghiên cứu sinh bậc Tiến Sỹ ở Đại Học Cần Thơ.

    • Võ Bé Hiền

    • CHI CỤC CHĂN NUÔI & THÚ Y ĐỒNG THÁP
    • Hồ Thị Việt Thu

    • ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trở lại