Các hợp phần

ViParc Main Description
Arrow
Arrow
Slider

 

Thật không may khi hiện nay có nhiều loại thuốc kháng sinh không còn hiệu quả trong việc điều trị bệnh ở người và động vật. Nguyên nhân chính do vi khuẩn không còn đáp ứng lại những kháng sinh này. Đây là hiện tượng ‘kháng kháng sinh’ (KKS), một mối quan tâm trên toàn thế giới, đây là kết quả của việc lạm dụng sử dụng thuốc kháng sinh. Trong chăn nuôi, đây là mối đe dọa lớn vì điều này làm giảm hiệu quả điều trị bệnh do vi khuẩn gây ra ở động vật, dẫn đến tổn thất kinh tế nghiêm trọng cho người chăn nuôi. Những vi khuẩn đề kháng kháng sinh và các gen đề kháng tại các trại chăn nuôi gà có thể lây truyền sang người, dẫn đến bệnh truyền nhiễm trên người sẽ trầm trọng và không thể chữa khỏi. Dự án ViParc có sứ mạng giúp đỡ người chăn nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt.

Thiết kế dự án ViParc

ViParc viết tắt của từ “Vietnamese Platform for Antimicrobial Reductions in Chicken production” (Nghiên cứu can thiệp giảm thiểu sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gà tại Đồng bằng sông Cửu Long), “Vi” cũng viết tắt từ “Veterinary intervention” (Can thiệp thú y). Dự án ViParc được tài trợ bởi Wellcome Trust (Số: 110085/Z/15/Z).

Dự án ViParc giải quyết vấn đề này thông qua một cuộc thử nghiệm khoa học tại các trại chăn nuôi, nơi các trại được lựa chọn ngẫu nhiên và được quan sát trong một khoảng thời gian bao gồm “giai đoạn giám sát” và “giai đoạn can thiệp”. Nghiên cứu này sẽ được thực hiện trong 3 năm tại Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam. Kết quả sẽ được đánh giá đầy đủ vào cuối giai đoạn can thiệp.

Những can thiệp được đề xuất (thông qua “giai đoạn can thiệp”) sẽ bao gồm việc hỗ trợ tư vấn thú y cho các trang trại được phân chia ngẫu nhiên vào “nhóm can thiệp” để giúp họ cải thiện năng suất và giảm sự nhiễm bệnh, từ đó giảm thiểu sự phụ thuộc của người chăn nuôi vào thuốc kháng sinh. Người chăn nuôi nhóm can thiệp sẽ được đào tạo miễn phí về thực hành chăn nuôi tốt, bao gồm phòng chống và kiểm soát bệnh gia cầm cũng như hỗ trợ tư vấn thú y miễn phí. Bên cạnh đó, một nửa người chăn nuôi thuộc nhóm can thiệp sẽ được yêu cầu không sử dụng thuốc kháng sinh trong thức ăn. Dự án sẽ cung cấp cho người chăn nuôi những phương án phù hợp để ngăn ngừa bệnh tật có thể xuất hiện khi thay đổi thức ăn. Vì nghiên cứu này được thiết kế như một thử nghiệm khoa học nên cần có một nhóm đối chứng để có thể xác định được hiệu quả của việc can thiệp. Nhóm đối chứng này bao gồm các trang trại không được hỗ trợ thú y và đào tạo thực hành chăn nuôi miễn phí. Thiết kế nghiên cứu ViParc được tóm tắt trong biểu đồ sau:

Câu hỏi nghiên cứu:

Dự án ViParc sẽ cố gắng trả lời các câu hỏi sau:

  1. Người chăn nuôi sử dụng thuốc kháng sinh khi nào và như thế nào (kể cả trong thức ăn) và những hiểu biết của họ về thuốc kháng sinh?
  2. Vi khuẩn gây bệnh trên gà trở nên đề kháng kháng sinh bằng cách nào? Loại đề kháng nào là phổ biến nhất ở trại chăn nuôi gà?
  3. Ảnh hưởng của gà giống và hiện trạng việc vệ sinh và khử trùng không đầy đủ ảnh hưởng như thế nào đến đề kháng kháng sinh?
  4. Thịt gà được nuôi ở các trang trại trong dự án có chứa dư lượng kháng sinh không?
  5. Hỗ trợ thú y có giúp người chăn nuôi giảm bệnh ở đàn gà không?

Đội ngũ đa chuyên môn

ViParc là một dự án nghiên cứu đa ngành với mục đích giảm thiểu tình trạng kháng kháng sinh trong chăn nuôi. Đây là một mối đe dọa lớn đối với vấn đề “Một sức khỏe” (One Health) không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Dự án được tài trợ bởi Nghiên cứu chuyên đề Hải ngoại Wellcome Trust (Vương quốc Anh) do Đơn vị nghiên cứu Lâm sàng đại học Oxford (OUCRU) tại thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện tại tỉnh Đồng Tháp thông qua Chi cục thú y (SDAHP-DT). Dự án bao gồm các chuyên gia về Thú Y, Vi sinh học, Khoa học Thí nghiệm, Kinh tế chăn nuôi và Quan hệ cộng đồng. Đối tác của dự án ViParc bao gồm Trường đại học Liverpool (Vương quốc Anh) (Giáo sư Jonathan Rushton), Trường đại học Chulalongkorn (Thái Lan) (Phó giáo sư Niwat Chansiripornchai), Trường đại học Barcelona (Tây Ban Nha) (Tiến sĩ Alexis Ribas), và trường Đại học Cần Thơ (Giáo sư Hồ Thị Việt Thu). Nghiên cứu này đã được Ban Thẩm định của Chi cục Thú y tỉnh Đồng Tháp phê duyệt, cũng như OXTREC (Ủy ban Y đức của Đại học Oxford) phê duyệt (số 5121-16).

 

Trở lại